Đôi nét về đất nước Malaysia

Với dân số khoảng 23 triệu người, Malaysịa là một tập hợp độc đáo của nhiều nhóm người khác nhau. Những cư dân đầu tiên trên vùng bán đảo này là giống người Orang Asli. Hiện nay còn một số bộ tộc ở bang Sabah và bang Sarawak vẫn còn sống cuộc sống du cư. Những người nhập cư kế tiếp là người Proto-Malay và Deutero-Malay. Những dân tộc bản xứ khác của Malaysia gọi chung là ‘Bumiputra’ có nghĩa là ‘con của đất’. Sau đó người Hoa và người Ấn nhập cư vào đây. Ngày nay người Hoa chiếm khoảng 24% dân số, còn người Ấn khoảng 8%.

Lịch sử của Malaysia là một lịch sử tương tác với những thế lực và ảnh hưởng ngoại bang vì vị trí chiến lược của nó ở giữa biển Đông và Ấn Độ Dương. Vị trí địa lý này đã làm Malaysia trở thành nơi gặp gỡ của cả những nhà buôn và những khách du lịch. Đạo Hindu và đạo Phật có ảnh hưởng mạnh tại vùng Tây Bắc trước khi có đạo Hồi. Những phát hiện khảo cổ học tại Kedah đã cho những bằng chứng về văn minh đạo Hindu và đạo Phật vào khoảng thời gian năm 300 sau Công nguyên.

du-lich-malaysia

Malaysia hưng thịnh như một trung tâm mậu dịch và thương mại cho đến thế kỷ thứ 13, khi Malacca, vốn giàu về gia vị, thu hút các thế lực thực dân. Đến năm 1511 Malacca rơi vào tay người Bồ Đào Nha, rồi năm 1641 vào tay người Hà Lan, và cuối cùng là người Anh vào năm 1815. Bên kia bờ biển trên đảo Borneo, Sarawak bị người Anh cai trị từ 1841 đến 1888. Từ đó Sarawak và Sabah trở thành thuộc địa của Anh.
Năm 1930 phong trào quốc gia đầu tiên của người Malay khởi phát. Đến sau Thế chiến thứ II, phong trào quốc gia này lại nổi dậy, đòi lại quyền độc lập cho Liên bang Malaya vào ngày 31 tháng 8 năm 1957. Đến năm 1963 Malaysia được thành lập. Ngày nay Malaysia là một trong những nước khởi xướng thành lập ASEAN và là một thành viên nổi bật của hiệp hội này.

Malaysia là một sự pha trộn của nhiều truyền thống văn hóa khác nhau, có gốc ở khu vực quần đảo Đông Nam Á cũng như ở Trung Hoa, Nam Á, Trung Đông và cả phương Tây. Trong vòng một thiên niên kỷ rưỡi sau Công nguyên, nền văn hóa bản xứ Malay ở bán đảo Malay và ở những vùng khác thuộc khu vực Đông Nam Á chịu ảnh hướng rất mạnh bởi Ấn Độ Tiền Hồi giáo và Hồi giáo giai đoạn đầu. Người Ấn Độ quan hệ với bán đảo Malay trong thời gian từ thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3 cho đến cuối thế kỷ thứ 14, đã để lại ảnh hưởng sâu rộng về tôn giáo (đạo Hindu và đạo Phật), nghệ thuật và văn chương. Đạo Hồi được đưa vào Malacca (bây giờ gọi là Melaka) từ thế kỷ 15, và chẳng bao lâu trở thành một tôn giáo có ưu thế ở Malay. Sự du nhập văn hóa phương Tây vào thế kỷ 19 đã ảnh hưởng đến nhiều mặt trong đời sống của người Malay, đặc biệt là về công nghệ, luật pháp, tổ chức xã hội và kinh tế:
Nền văn hóa hiện nay của Malaysia được hình thành như vậy, bao gồm nhiều khuynh hướng – thuyết duy linh, đạo Hindu xưa, đạo Hồi xưa và đạo Hồi hiện đại, và đặc biệt ở các thành phố là khuynh hướng Tây phương và mô hình chung của nó khác với các nền văn hóa khác, mang nét đặc trưng Malaysia.
Những ảnh hưởng văn hóa bên ngoài đã có tác động rất ít đến âm nhạc, khiêu vũ, văn chương và nghệ thuật trang trí. Ở miền Đông Malaysia không có sử sách hoặc văn chương.

Kiến trúc được phát triển rất ít, và những loại hình nghệ thuật chính là khiêu vũ và nghề thủ công, thể hiện chủ yếu bằng vải dệt tay của bộ tộc Punan, những tấm chiếu mây được trang trí hoa văn, cùng với các loại giỏ và các tác phẩm khắc gỗ. Chỉ ở vùng bán đảo, các loại hình nghệ thuật trong văn hóa Malay bao gồm văn chương, âm nhạc, khiêu vũ và nghệ thuật trang trí mới được phát triển. Hội họa và điêu khắc phát triển rất kém, chủ yếu là vì đạo Hồi không khích lệ việc thể hiện hình dạng con người. Những ví dụ về nghệ thuật trang trí của Malay là nghề in vải batic (in bằng cách phủ sáp lên chỗ không cần in), đồ bạc, dao găm làm bằng tay, khắc gỗ. Nền văn hóa Hoa-Malaysia thoát thai từ văn minh Trung Hoa và được thể hiện qua văn chương, kịch nghệ, âm nhạc, hội họa và kiến trúc. Một số nghệ sĩ Malaysia – gốc Malay, Hoa hoặc Ấn – cũng đã bắt đầu đưa ra những hình thức nghệ thuật Malaysia mới, tổng hợp và đặc biệt, nhất là trong hội họa và kiến trúc.
Malaysia đã tuyên bố độc lập vào ngày 31 tháng 8 năm 1957. Thủ đô của nước này là Kuala Lumpur. Malaysia gồm có 13 tiểu bang và 3 hạt liên bang. Malaysia theo chế độ quân chủ lập hiến, đứng đầu bởi một Yang di-Pertuan Agong (người cai trị tối cao), thông thường được gọi là vua. Ở chín bang thuộc vùng bán đảo, những vị vua được bầu ra theo nhiệm kỳ 5 năm. Vua cũng là người lãnh đạo Hồi giáo ở Malaysia.

Quyền điều hành tập trung vào nội các do thủ tướng đứng đầu. Hiến pháp Malaysia quy định thủ tướng phải là một thành viên của hạ nghị viện, để thay mặt Yang di- Pertuan Agong lãnh đạo đa số trông trong quốc hội. Nội các được chọn trong số các thành viên của cả thượng nghị viện lẫn hạ nghị viện.
Lưỡng viện bao gồm thượng nghị viện và hạ nghị viện. Tất cả 69 thành viên của thượng nghị viện đều có nhiệm kỳ 6 năm, trong đó 26 thành viên do hội đồng lập pháp của 13 bang bầu ra, và 43 thành viên còn lại do nhà vua chỉ định. Các thành viên của hạ nghị viện được bầu từ các quận theo lối phổ thông đầu phiếu. 193 thành viên của hạ nghị viện được bầu ra trong nhiệm kỳ tối đa 5 năm. Quyền lập pháp được chia giữa liên bang và các cơ quan lập pháp của từng bang.
Hệ thống luật pháp của Malaysia dựa trên thông luật của Anh. Tòa án Liên bang xem xét các quyết định của Tòa Thượng thẩm, và có quyền lực pháp lý trong những vấn đề về hiến pháp cũng như những tranh chấp giữa các bang hoặc giữa chính quyền liên bang và một bang trong nước. Bán đảo Malaysia và hai bang Sabah và Sarawak ở miền Đông, mỗi nơi đều có một tòa án.

Là một thành viên sáng lập của ASEAN, Malaysia coi việc hợp tác trong khu vực là nền tảng của chính sách ngoại giao của mình. Malaysia là nước dẫn đầu trong việc mở rộng ASEAN đến Việt Nam, Lào và Miến Điện. Trong các vấn đề quốc tế, Malaysia duy trì mối quan hệ với Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản. Malaysia là một thành viên tích cực của Khối Thịnh vượng Chung, của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Hội nghị Hồi giáo, và của Phong trào Không Liên kết.
Kinh tế Malaysia là một nền kinh tế dựa chủ yếu trên các sản phẩm nông nghiệp. Ngoài ra, nước này còn là một trong những quốc gia sản xuất nhiều nhất về cao su, thiếc, dầu cọ, gỗ và tiêu. Tuy nhiên, chính quyền hiện nay muốn chuyển nền kinh tế theo dạng dựa trên chế biến và dịch vụ.
Ngày nay, các hoạt động chế biến hình thành yếu tố lớn nhất trong nền kinh tế Malaysia. Lợi nhuận từ dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên cừng với sự đầu tư nước ngoài ngày một gia tăng đã giúp nền kinh tế Malaysia đa dạng hóa sang ngành sản xuất xe hơi và sản xuất máy tính. Du lịch cũng nổi lên là một nguồn lợi nhuận chính. Malaysia đã trở thành một trong những điển hình thành công nhất ở vùng châu Á.

Malaysia có khí hậu nhiệt đới, nóng và ẩm quanh năm. Ở những khu nghỉ mát trên các ngọn đồi, khí hậu mát dịu hơn. Nhiệt độ trung bình từ 24oC đến 34oC. Đây là một đất nước đẹp và với các cánh đồng dọc theo bờ biển, tiếp nối với những ngọn đồi xanh mượt rồi đến những dãy núi trùng điệp.

Nguồn: tổng hợp

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Cùng danh mục